Sửa chữa CNC độc lập và tài liệu kỹ thuật Liên hệ

Màn hình servo Mitsubishi M800/M80: vì sao không thể so trực tiếp Droop với ba giá trị dòng điện cực đại

Ngày đăng Cập nhật

Dựa trên IB-1501273-L, phân biệt sai lệch bám vị trí, phản hồi dòng điện và đỉnh lệnh dòng điện. Khoảng từ lúc bật nguồn và 2 giây gần nhất có ý nghĩa khác nhau khi chẩn đoán. Không kết luận phải thay bộ truyền động chỉ từ một tỷ lệ phần trăm.

Mục lục
  1. Phạm vi: bộ servo, không phải bộ trục chính
  2. Ba loại thông tin trên cùng một trang
  3. Droop lớn hơn chưa xác định được bộ phận hỏng
  4. Ví dụ chỉ để giải thích bản ghi
  5. Làm cho phép so sánh có ích
  6. Điều kiện dừng và nguồn

Trên cùng một trục, Load current thấp nhưng Max current 1 cao có nghĩa là phản hồi dòng điện bị lỗi không? Chưa chắc. Hai mục này khác cả khoảng thời gian thống kê lẫn loại tín hiệu. Cần hiểu định nghĩa trước khi coi mọi tỷ lệ phần trăm là tải tại cùng một thời điểm.

Phạm vi: bộ servo, không phải bộ trục chính

Bài viết dựa trên tài liệu bảo trì Mitsubishi M800/M80/E80, IB-1501273-L, bản L, mục 4.7.1, trang in 100–101. Đường dẫn màn hình là Diagn → Drv mon → Servo unit, áp dụng cho trục NC và PLC. Các dòng khác, M800V/M80V, bộ trục chính và màn hình do nhà chế tạo máy tùy chỉnh cần được đối chiếu riêng. Bài viết chỉ giải thích bản ghi có sẵn, không yêu cầu di chuyển máy hay thay đổi tham số.

Ba loại thông tin trên cùng một trang

Mục trên màn hìnhĐịnh nghĩa và giới hạn so sánh
Droop (i)Sai lệch vị trí thực của cơ cấu so với vị trí lệnh; đơn vị hiển thị theo #1003 iunit. Đây không phải tỷ lệ dòng điện hay phép đo trực tiếp sai số kích thước chi tiết.
Speed / FeedrateLần lượt là tốc độ thực của động cơ và tốc độ tiến dao phía cơ cấu máy. Với động cơ tuyến tính, Speed dùng mm/s, không phải r/min.
Load current (%)Giá trị phản hồi dòng điện động cơ, quy theo dòng điện liên tục khi rôto đứng yên.
Max current 1 (%)Trị tuyệt đối của đỉnh lệnh dòng điện được lấy mẫu từ lúc bật nguồn, quy theo cùng dòng điện cơ sở đó.
Max current 2 (%)Trị tuyệt đối của đỉnh lệnh dòng điện trong 2 giây gần nhất, cùng cơ sở quy đổi.
Max current 3 (%)Trị tuyệt đối của đỉnh phản hồi dòng điện trong 2 giây gần nhất, cùng cơ sở quy đổi.

Khác biệt chính giữa Max current 1 và 2 là khoảng thời gian; giữa 2 và 3 là lệnh so với phản hồi. Giá trị đỉnh tuyệt đối không giữ dấu để suy ra chiều chuyển động. Các tỷ lệ này cũng không phải phần trăm công suất định mức của bộ truyền động.

Droop lớn hơn chưa xác định được bộ phận hỏng

Tài liệu nêu Droop tỷ lệ với tốc độ lệnh và đưa ra quan hệ của hệ số khuếch đại vòng vị trí Gain: tốc độ tiến dao (mm/s) chia cho sai lệch trễ bám (mm). Vì vậy, Droop lớn hơn ở một tốc độ khác chưa đủ để kết luận động cơ hoặc bộ mã hóa hỏng. Phải đối chiếu tốc độ, trục, đơn vị và giai đoạn vận hành.

Quan hệ này không phải công thức hiệu chỉnh tại hiện trường. Không thể tùy tiện gộp dữ liệu tăng tốc, giảm tốc và tiến dao ổn định, cũng không nên cố tính tỷ số từ các số đọc gần bằng không khi máy dừng. Bài viết không suy ra hệ số khuếch đại khuyến nghị từ màn hình và không coi mọi sai lệch thay đổi theo tốc độ đều bình thường.

Ví dụ chỉ để giải thích bản ghi

Các số sau là giả định, không phải kết quả đo: bản ghi khi máy dừng có Load current 10%, Max current 1 160%, Max current 2 25% và Max current 3 24%. Chúng không nhất thiết mâu thuẫn. 160% là đỉnh lệnh từ lúc bật nguồn, không chứng minh phản hồi hiện tại vẫn là 160%. 25% và 24% là đỉnh của hai tín hiệu khác nhau trong 2 giây gần nhất. Lấy hiệu hai số không cho sai lệch bám dòng điện tức thời, vì hai đỉnh có thể xuất hiện ở thời điểm khác nhau.

Tương tự, riêng 160% không chứng minh đã quá tải. Cùng mục đó định nghĩa riêng Overload là dữ liệu giám sát quá tải động cơ và bộ truyền động; Regen load giám sát trạng thái quá tải điện trở khi kết nối bộ nguồn tái sinh kiểu điện trở. Không thể dùng chúng thay cho Max current. Bài viết không đưa ra ngưỡng báo động hoặc thời gian duy trì cho phép chung.

Làm cho phép so sánh có ích

  1. Ghi rõ trục, model CNC, bộ truyền động và động cơ, đơn vị và giai đoạn vận hành trên dữ liệu có sẵn. Cùng tỷ lệ phần trăm ở các động cơ khác nhau không có nghĩa là cùng số ampe.
  2. Xác định các bản ghi có thuộc cùng một lần bật nguồn không và ghi thời điểm chụp. Nếu khác lần bật nguồn, lịch sử của Max current 1 cũng khác. Không tắt rồi bật nguồn chỉ để có đỉnh mới.
  3. Tách riêng Load current, ba mục Max current và Droop, kèm dữ liệu tốc độ và báo động đã có. Các ảnh chụp khác thời điểm không tạo thành dạng sóng được lấy mẫu đồng thời.
  4. Nếu thay đổi vẫn không giải thích được trong các bản ghi lịch sử có điều kiện tương đương, chuyển toàn bộ cho người phụ trách. Một màn hình không thể tách biệt lực cản cơ khí, vấn đề lệnh và phản hồi, hay xác định bộ phận cần thay.

Điều kiện dừng và nguồn

Quy trình so sánh trên là phương pháp đọc dữ liệu do biên tập viên tổng hợp. Khi có chuyển động bất thường, tiếng động lạ hoặc báo động liên quan, dừng máy an toàn theo quy trình của nhà chế tạo. Không kiểm chứng bài viết bằng cách tăng hệ số khuếch đại, nới giới hạn sai lệch, vô hiệu hóa bảo vệ hoặc đo điện khi đang có điện. Việc thu dạng sóng hay chạy thử cần một kế hoạch an toàn riêng do người đủ chuyên môn lập.

Nguồn: Tài liệu bảo trì Mitsubishi M800/M80/E80, IB-1501273-L, bản L, §4.7.1, trang in 100–101. Định nghĩa lấy từ tài liệu của hãng; số giả định và phương pháp so sánh là phần giải thích biên tập. Không thực hiện thử nghiệm trên máy.

Bài viết kỹ thuật liên quan

Mitsubishi M800/M80 hiển thị vị trí khác nhau: xác định bộ đếm trước khi kết luận lỗiẢnh chụp cảnh báo Mitsubishi M800/M80: cần lưu gì trước khi sửa chữaCảnh báo Mitsubishi S01, S03, S04 khác nhau thế nào: xem nhóm reset trước